Bạn lưu trú ở Bản thể hiện tiền – vốn bất biến, phi thời gian, và bất diệt – và bạn không còn lệ thuộc vào thế giới các hình tướng không ngừng dao động bên ngoài để tìm kiếm thỏa mãn hay hạnh phúc nữa. Ngay khi một trong những cánh cổng ấy mở ra, tình thương hiện diện trong bạn như là “tri kiến nhờ cảm nhận” về cái nhất thể. Hãy tạo thói quen rà soát tình trạng xúc cảm tư duy thông qua biện pháp quan sát bản thân: “Tôi có thấy dễ chịu ở khoảnh khắc này không?” là câu hỏi tốt để bạn thường xuyên tự vấn mình.
Đó là lý do giải thích tại sao Chúa Jesus không nói: Chân lý sẽ giải thoát ngươi, mà nói: “Ngươi sẽ hiểu rõ chân lý, và chân lý sẽ giải thoát ngươi”. Điểm cốt yếu chính là sự hiện trú tỉnh thức của bạn. Tuy nhiên, lối thiền định này không thay thế được cách tập luyện lưu trú thường xuyên ở cơ thể; mặt khác, hiệu quả của nó cũng chỉ nhất thời thôi.
Đó không phải là một phán xét, mà chỉ là sự thực thôi. Thường thì tương lai là bản sao của quá khứ. Nhưng việc chúng ta đang làm ở đâu là một phần trong cuộc chuyển hóa sâu sắc vốn đang diễn ra trong ý thức tập thể của hành trình này và xa hởn nữa: đó là thức tỉnh ra khỏi giấc mơ vật chất, hình tướng, và phân biệt.
Sau đó, hãy tiếp tục đề cao cảnh giác để chờ đợi dấu hiệu kế tiếp của cái quầng đau khổ. Khi bạn trở nên vô tư như vậy, thì chẳng phải có nghĩa là bạn cũng trở nên lãnh đạm với những người khác sao? Thế nhưng lòng trắc ẩn đích thực như tôi vừa miêu tả, cho đến nay vẫn còn hiếm hoi.
Ít nhất hãy quan tâm đến các phản ứng chẳng kém gì đến tình huống hay con người khiến cho bạn có các phản ứng ấy. Thuật ngữ giác ngộ hay tỏ ngộ gợi lên khái niệm về sự thành tựu của một siêu nhân nào đó, và tự ngã hay cái tôi thích lưu giữ một khái niệm kiểu ấy. Bất cứ mê lầm bất thức nào cũng đều tan biến đi khi nó được ánh sáng ý thức chiếu rọi vào.
Khi bạn nhớ lại quá khứ, bạn khơi gợi lại dấu vết ký ức – và bạn làm điều đó ngay trong hiện tại. Bạn đang biến khoảnh khắc hiện tại thành kẻ thù. Vô số người ở phương Đông và phương Tây trải suốt nhiều thế kỷ đã nỗ lực tìm kiếm Thượng đế, sự cứu rỗi, hay giác ngộ thông qua sự chối bỏ thân xác.
Nó tái lập trạng thái tự ý thức, nhưng ở mức độ sâu xa hơn so với lúc nó đánh mất đi trạng thái này. Luôn luôn hướng chú ý của bạn chiếu rọi vào trường năng lượng nội tại của cơ thể bạn. Như đã nói, “làm cái không gì cả” khi bạn ở trong trạng thái hiện trú toàn triệt chính là tác nhân chuyển hóa và hàn gắn rất mạnh mẽ đối với các hoàn cảnh cũng như con người.
Lòng trắc ẩn đích thật vượt lên trên sự đồng cảm hay thương hại. Liệu nó vẫn còn quá khứ và tương lai không? Liệu chúng ta còn có thể đề cập đến tương lai theo bất cứ một ý nghĩa nào đó không? Câu hỏi: “Mấy giờ rồi?” hay “Hôm nay là ngày thứ mấy?” – nếu như có ai đó nêu lên – sẽ hoàn toàn vô nghĩa. Bao lâu bạn còn xa lạ với Bản thể hiện tiền, thì bấy lâu thực tại của những người khác sẽ còn vuột khỏi bạn, bởi vì bạn không tìm ra được thực tại của chính mình.
Cùng lúc ấy, mặc dù mắt vẫn còn nhắm mà tôi lại thấy hình ảnh một viên kim cương quý giá. Nhân đây cũng xin nói thêm rằng Freud cũng đã nhận ra sự hiện diện của mối bất an ngấm ngầm này, và đã đề cập đến nó trong tác phẩm Civilixation and Its Discontents của ông. Suy nghĩ bị cưỡng bách không thể dừng lại được đã trở thành một căn bệnh tập thể.
Nỗi sợ hãi của nó vẫn luôn còn đó; cảm giác thiếu thốn và túng quẫn vẫn luôn còn đó. Tâm trí của người bạn đời chưa tỏ ngộ sẽ chán nản sâu sắc, bời vì những định kiến của nó không bị phản đối, có nghĩa là chúng sẽ trở nên yếu ớt và không vững chắc, và thậm chí có “nguy cơ” bị sụp đổ hoàn toàn, đưa đến hậu quả là mất đi cái tôi giả lập của họ. Khi bạn tạo ra một vấn đề, bạn cũng gây ra đau khổ.