Những cản trở trong quá trình hiểu một cuốm sách khó không đơn thuần là vấn đề sinh lý hay tâm lý. Ở vị thế này, họ có thể sử dụng những quyền hạn và đặc lợi của mình để đưa ra những lời phê bình, nhận xét về cuốn sách. Giống như từ điển, bách khoa toàn thư khiến cho người đọc có cảm giác vừa học vừa chơi vì nó giúp con người thư giãn và bớt căng thẳng.
Hạn chế của công thức trên là đưa sẵn trật tự cũng như mối quan hệ giữa các phần của cuốn sách. Thứ hai, trong sân khấu Hy Lạp, các nhân vật nam bi kịch thường đi một loại ủng khiến họ cao thêm vài xentimet, nhưng những diễn viên tham gia nhóm Chorus (những người hát và múa diễn giải các sự việc của vở kịch) thì không đi loại ủng này. Có thể tác giả sẽ giải thích nguồn gốc quan điểm của mình, bàn luận về những từ mình dùng, nhận xét về tác phẩm của các tác giả khác, hoặc tranh luận nhiều vấn đề khác… Nhưng trọng tâm mà tác giả muốn đề cấp đến nằm trong những khẳng định và phủ định lớn, cũng như các lý do tác giả nêu lên để giải thích cho những nhận định đó.
Mỗi cái cúc có một khuyết và mỗi khuyết ứng với một cái cúc. Trên thực tế, độc giả thường dùng cách đọc kiểm soát làm công cụ chủ yếu trong đọc đồng chủ đề. Như đã nói, bước thứ ba của đọc đồng chủ đề là giải đáp các thắc mắc.
Đồng thời, giáo sư I. Tất nhiên, nếu bạn muốn biết sự thật về cuộc đời một người, bạn nên đọc càng nhiều sách tiểu sử viết về người đó càng tốt, kể cả tự truyện nếu có. Vì thế, độc giả phải được phổ cập kiến thức khoa học.
Ông đã miêu tả những loại sai lầm mà có thể có ý nghĩa với mọi người nói chung hơn là với bản thân ông ta hay với những người dân Hy Lạp. Đây là một vấn đề rất quan trọng. Bạn có thể viết ra giấy những nhận định cấu thành lập luận.
Đọc kỹ chương này, bạn sẽ thấy chúng tôi thỉnh thoảng có nhắc tới nghịch lý của việc đọc đồng chủ đề. Việc đọc sách, giống như tự khám phá, chính là học mà không có thầy giáo. Người đọc đồng chủ đề chắc chắn sẽ thất bại trong việc nhìn nhận mọi ý kiến.
Trong giai đoạn hai của việc đọc phân tích, quy tắc đầu tiên đòi hỏi bạn phải thống nhất thuật ngữ với tác giả, nghĩa là phải xác định được những từ khoá trong tác phẩm và cách tác giả sử dụng chúng. Thứ hai, việc mọi người bất đồng quan điểm không có gì quan trọng. Hy vọng độc giả nào quán triệt những quan điểm này, anh ta sẽ không bị cảm xúc hay định kiến chi phối.
Để kiến thức mang tính thực tế, chúng ta phải biết chuyển chúng thành nguyên tắc hoạt động, từ việc biết đó là trường hợp nào sang việc biết phải làm gì để đạt được mục tiêu trong trường hợp đó. Nhưng nếu bạn chỉ đọc một cuốn sách khoa học có các vấn đề toán học, bạn nên bỏ qua thao tác này. Cách hiểu đa nghĩa này không chỉ là dạng bài tập cơ bản trong nghệ thuật đọc sách, mà còn có xu hướng tạo cho trí óc ta thói quen luôn ý thức được rằng một đoạn văn phức tạp có thể chứa đựng rất nhiều lớp nghĩa khác nhau.
Tiếp đó, học sinh mới học cách nhận biết các từ cấu thành câu đó, và cuối cùng là các chữ cái tạo nên các từ. Immanuel Kant đã viết hai tác phẩm triết học nổi tiếng là The Critique of Pure Reason (Bàn về suy luận thuần tuý) và The Critique of Practical Reason (Bàn về suy luận mang tính thực hành). Một câu đơn như John Doe đã ký hợp đồng ngày 24 tháng 3 trông có vẻ đơn giản nhưng nó nói lên nhiều điều cả đúng và sai.
Từ này có gốc từ tiếng Hy Lạp nghĩa là ý kiến đúng. Từ đó suy ra một thuật ngữ có thể được diễn đạt bằng một cụm từ hoặc một từ. Khi tất cả tác giả chỉ đưa ra hai câu trả lời, vấn đề trở nên đơn giản.